Hà Thanh: Những bí mật về danh ca được mệnh danh Họa mi hót trên vai Đức Phật (P2)

Có nhiều điều công chúng chưa biết về nhân cách và giọng hát của danh ca Hà Thanh – người được mệnh danh là Họa mi hót trên vai Đức Phật.

Nhắc đến thế hệ danh ca Việt Nam trước 1975, người ta thường chỉ nhớ tới Thái Thanh, Khánh Ly, Lệ Thu, Hoàng Oanh, Thanh Tuyền. Ít ai biết Hà Thanh vì cô sống một cuộc sống trầm mặc, tĩnh tại, lánh xa bon chen chốn sân khấu.

Suốt sự nghiệp ca hát gần hơn nửa thế kỉ của mình, Hà Thanh lúc nào cũng e lệ, khiêm nhường và rụt rè khi bước lên sân khấu.

Hà Thanh đi hát không nhiều, thường từ chối các lời mời diễn show, dù luôn được săn đón, trọng vọng. Cô cũng ít khi trả lời phỏng vấn và hầu như không muốn lên báo chí, truyền thông.

Cách hành xử này hoàn toàn đối lập với giới nghệ sĩ trong showbiz ngày nay, vốn luôn muốn lao vào danh vọng để có được tiền tài, nổi tiếng, bất chấp thị phi.

Có lẽ vì vậy mà tầng lớp khán giả đương đại không nhiều người nhớ đến Hà Thanh. Nhưng tầm vóc của cô trong nền tân nhạc Việt Nam là rất lớn, xứng đáng với 2 chữ "DANH CA" viết hoa.

Hà Thanh là ca sĩ hiếm hoi đem đến chất học thuật cao quý cho dòng nhạc Bolero, khiến nó trở nên đẳng cấp, sang trọng như được tô thêm màu bán cổ điển, nhưng vẫn đậm chất trữ tình quê hương.

Không những vậy, cô còn thành công ở nhiều mảng nhạc khác như tiền chiến, Slow, Ballad… Mỗi khi chạm tay vào bất cứ dòng nhạc nào, Hà Thanh cũng để lại một dấu ấn sâu đậm, đến từ chất sang trọng bậc nhất và kĩ thuật phức tạp, phong phú của cô.

Hà Thanh hát Ai ra xứ Huế

Và ở một số ca khúc mang âm hưởng ca Huế như Tiếng sông Hương, Hà Thanh lại phát âm chuẩn giọng Huế quê hương mình, nghe rất sang, ngọt và quý phái. Cô đổi toàn bộ thanh sắc thành thanh hỏi, thanh ngã thành thanh nặng một cách đầy tự nhiên, mượt mà, không chút vấp váp, như ăn sâu vào máu thịt.

Hà Thanh còn có biệt tài thổi hồn cảm xúc riêng của người Huế vào từng câu từng từng chữ. Chẳng hạn, khi hát ca khúc Đêm tàn bến ngự, cô chuyên chở một cách đầy đặn tâm tư người Huế vào những âm Huế đặc trưng như "soi bóng", "sầu than", "bẽ bàng", "lạt phai"… Điều này khiến người nghe như thấy rõ một xứ Huế mộng mơ hiện lên đầy cổ kính, trầm mặc và dịu dàng, với nón bài thơ, cầu Tràng Tiền, sông Hương, núi Ngự.

Hà Thanh hát Đêm tàn bến ngự

Hà Thanh hát Tiếng sông Hương

Khi hát, Hà Thanh thường làm mềm giọng của mình bằng legato và messa voce, kết hợp với chất kim vang xa, khiến nó trở nên bay bổng, bồng bềnh trôi đi thững thờ như dòng sông Hương. Đó là cốt cách hát riêng của người Huế, rất bình an, trầm lặng, không kịch tính, vồ vập.

Bởi vậy, Hà Thanh xứng đáng với nhận định của ca sĩ Quỳnh Giao: "Hà Thanh là một trong những ca sĩ hiếm hoi giữ được "chất Huế" trong giọng hát của mình".

Không chỉ hiện thân cho xứ Huế, tiếng hát và nhân cách của Hà Thanh còn đại diện cho ánh sáng Phật pháp. Rất nhiều ca sĩ ngày nay hướng Phật hoặc sử dụng Phật giáo làm chất liệu âm nhạc cho mình, nhưng không một ai đạt tới cảnh giới tâm hồn, giọng hát hiến trọn cho Đức Phật như Hà Thanh.

Hà Thanh hát nhạc Phật

Chất mềm mại trong giọng Hà Thanh tạo cho người nghe cảm giác có một làn sương mờ bọc quanh, nên hát kiểu gì cũng vẫn lững lờ, huyền ảo như tiếng tiên nữ cõi thiên thai, tạo nên chất tiên cảnh thanh thoát.

Để giữ giọng mình luôn êm ái, Hà Thanh thường hát nhỏ tiếng piano trên airy voice hoặc đẩy vị trí âm thanh lên trên rồi hát ở quãng thấp. Cách hát này được cô sử dụng ở mọi lúc nhả chữ. Nhờ đó, người nghe có được cảm giác an lành nhưng sâu lắng, giúp họ thả hồn vào chiêm nghiệm, hư không.

Là một Phật tử chính chuyên, Hà Thanh chỉ trình diễn trong những đại hội Phật Giáo, hay đại nhạc hội lạc quyên giúp thuyền nhân ở các trại tị nạn, giúp cứu trợ nạn nhân lũ lụt ở quê nhà, góp phần xây thiền đường, bảo tự.

Về chất thiền học trong tiếng hát Hà Thanh, thiền sư Chân Không từng nói: "Nhưng tôi thì vẫn đang còn nghe vẳng vẳng ngay lúc này đây, cái giọng ngọt ngào ấy, trong như những giọt sương mai long lanh, đầm ấm mà từ bi như tiếng chuông ngân xa, ngân xa… thật xa biến cõi buồn phiền thành Tịnh Độ".

Với những điều tuyệt vời ấy, Hà Thanh đã được công chúng mệnh danh là "Chim họa mi hót trên vai Đức Phật xứ thần kinh".

Danh ca Bolero sở hữu kĩ thuật bậc thầy

Trong nền nhạc tiền chiến nói chung và Bolero nói riêng, Hà Thanh được xem là ca sĩ có kĩ thuật hát chắc chắn, phong phú và đa dạng nhất, dù cô chưa từng trải qua một trường lớp đào tạo nào.

Hiện nay, đa số các ý kiến vẫn cho rằng, Hà Thanh là giọng nữ cao (soprano), nhưng kì thực cô lại là nữ trung trữ tình (lirico mezzo soprano).

Hà Thanh hát quãng trung ở Suối mơ

Vì là một nữ trung nên Hà Thanh xuống trầm rất tốt. Cô có thể nhả chữ xuống tận D3 và hát thoải mái trên F3, G3. Quãng trầm của Hà Thanh đẹp, êm ái, nó không quá nặng, tối, mà nhẹ, mềm do cách hát riêng của cô. Hà Thanh điều khiển quãng trầm thành thần, nhả từng câu từng chữ đúng với hòa thanh, không một chút chênh phô.

Quãng trung của Hà Thanh ít được sử dụng, nhưng cũng khá tối, nặng và dày, không giống các nữ cao khác.

Là một nữ trung, nhưng quãng cao của Hà Thanh lại rất phát triển nhờ sử dụng đúng vị trí âm thanh, head voice và mixed voice. Hà Thanh đã đạt tới trình độ hát cao mà như không hát, nên các quãng mixed A4, C5 của cô ẩn giấu được vào từng phát âm, khiến ít người nhận ra.

Hà Thanh hát trầm và chuyển giọng đầy mượt mà

Hà Thanh cộng hưởng head voice đậm chất thính phòng

Hà Thanh là một trong những ca sĩ sử dụng vibrato đẹp nhất. Vibrato của cô rất đều và liền mạch, đạt tới tần số rung hoàn hảo, không nhanh, không chậm. Hà Thanh ngân rung khẽ, nhẹ, tự nhiên như hơi thở và đúng vị trí support. Nó tạo nên những quãng âm đều đặn, tròn trịa, giống như chuỗi mắt xích hàng nghìn đốt không lệch đi đốt nào.

Bởi vậy, dù vibrato rất nhiều trong một câu hát, nhưng Hà Thanh vẫn biết cách chuyển giọng, chuyển âm lượng thật tinh tế, khiến người nghe được thoải mái, thư giãn.

Hà Thanh chạy staccato head voice linh hoạt

Head voice của Hà Thanh rất phát triển và mang màu sắc thính phòng. Cô cộng hưởng độ vang tốt ở head voice và sử dụng nó linh hoạt để chạy note, staccato. Ngoài ra, Hà Thanh còn dùng airy voice trên head voice để khiến câu hát trở nên êm ái, mềm mại nhất mực.

Chú thích thuật ngữ thanh nhạc:

- Note khá trầm: C2/C#2, D2/D#2, E2. F2/F#2, G2/G#2, A2/A#2, B2.

- Note trầm: C3/C#3, D3/D#3, E3, F3/F#3, G3/G#3, A3/A#3, B3.

- Note trung: C4/C#4, D4/D#4, E4, F4/F#4, G4/G#4, A4/A#4, B4.

- Note cao: C5/C#5, D5/D#5, E5, F5/F#5, G5/G#5, A5/A#5, B5.

- Note rất cao: C6/C#6, D6/D#6, F6/F#6, G6/G#6, A6/A#6, B6.

- Mixed voice: Hát pha giữa chest voice và head voice. Trong mixed voice có full mixed (hát pha toàn giọng) và light mixed (hát pha nửa giọng).

- Vibrato: Ngân rung.

- Piano: Hát nhỏ giọng vừa phải.

- Pianissimo: Hát rất nhỏ giọng.

- Diminuendo: Hát nhỏ dần.

- Fortissimo: Hát to dần.

- Subito piano: Hát nhỏ đột ngột.

- Subito forte: Hát to đột ngột.

- Forte piano: Hát to nhỏ liên tiếp.

- Messa di voce: Hát nhỏ - to - nhỏ liên tiếp.

- Airy voice: Âm hơi.

- Full lirico soprano: Nữ cao đầy đặn.

- Falsetto: Giọng gió.

- Head voice: Giọng đầu.

- Chest voice: Giọng ngực.

- Support: Hỗ trợ các vị trí âm thanh và kĩ thuật trong ca hát.

- Strain: Hát căng thẳng.

- Cadenza: Biến tấu hoa mĩ không có trong tổng phổ gốc.

- Staccato: Hát ngắt.

- Trillo: Rung láy.

- Legato: Hát liền giọng.

- Voice project: Phóng âm.

- Mask resonance: Cộng hưởng độ vang ở vùng mặt.

- Head resonance: Cộng hưởng độ vang ở vùng đầu trán.

- Throaty: Hát dính cổ

- High larynx: Cao thanh quản.

- Melisma: Luyến láy trên nhiều cao độ khác nhau (thường là từ cao xuống thấp).

- Run/riff: Chạy note phức tạp.

- Glissando: Hát vuốt tốc độ nhanh.

- Phân loại giọng theo ngũ cung: Giọng thổ, giọng thủy, giọng hỏa, giọng mộc, giọng kim.

Loading...
Mời bạn đọc thêm:
Loading...